Y Cần Thơ- Powered by TheKyOnline.vn
culture-civilization

Văn hoá và văn minh.

 

A. Văn: có 11 chữ Hán, , , (), , , , (), , (), , , ở đây là chữ(văn).

(1) Chữ viết: Chung đỉnh văn (chữ khắc trên đồ đồng cổ).

(2) Ngôn ngữ: Anh văn; Hán văn; Việt văn.

(3) Văn từ, hợp nhiều chữ lại thành bài: Văn chương.

(4) Cách diễn tả: Tình văn tịnh mậu ( tưởng và văn chương đều hay).

(5) Cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hoá mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt: Văn minh.

(6) Văn hoa, chỉ cốt bề ngoài cho đẹp, không chuộng đến sự thực: Phù văn.

(7) Nhà văn Trung Hoa có hai lối viết: lối bình dân gọi là bạch, và lối cao kỳ gọi là văn (thứ này gồm cổ văn).

(8) Chỉ có hình thức bên ngoài: Hư văn.

(9) Ngạch song lập với võ: Văn quan.

(10) Một số hiện tượng thiên nhiên: Thiên văn; thuỷ văn.

(11) Đồng tiền (cổ văn): Văn tiền (tiền cục).

(12) Phiên âm Brunei: Văn lai. tt.

(13) Dáng vẻ thanh tao: Văn nhân; văn nhã; văn hoả (lửa dim dim).

(14) Tao nhã: Ôn văn.

(15) Có ăn học: Văn nhân. đt.

(16) Che đậy: Văn quá sức phi (che tội và tô cho nhẹ các điều lầm lỡ).

(17) Xăm thông với: Văn thân (xăm mình).

B. Hoá: có 2 chữ, , () trường hợp này là (hoá), nghĩa là dt.

(1) Dạy: Giáo hoá.

(2) Tập tục dân gian: Phong hoá.

(3) Trời đất hay mệnh vận: Tạo hoá.

(4) Chế độ lễ nhạc: Văn minh tình thương và sự sống.

(5) Người ăn xin: Khiếu hoá tử (kẻ ăn xin). đt.

(5) Tạo thành: Hoá công.

(6) Thay đổi: Thiên biến vạn hoá (thay đổi rất nhiều).

(7) Trời đất sinh thành vạn vật: Hoá dục.

(8) Nhà Phật xin bố thí: Hoá duyên.

(9) Dùng tiền: Hoá phí.

(10) Đốt ra tro: Hoả hoá.

(11) Biến cải: Hoá hại vi lợi.

(12) Tan biến: Hoá vi ô hữu (biến mất tích).

(13) Giúp tiêu: Hoá thực.

(14) Giúp đổi: Hoá trang (phấn son,...); Hoá trang (bằng trang phục, diện mạo, đầu tóc,… - cải dạng).

(15) Chết: Toạ hoá (nhà sư chết ngồi). 

Nghĩa Nôm: Hoá (cũng nói vá, là tiếng goá nói trại): chết chồng hoặc chết vợ: Ở hoá.

C. Minh: có 12 chữ, , (), , , , (), , , , , . nơi đây là chữ (minh).

(1) Thị giác: Song mục thất minh (hai mắt bị mù).

(2) Mắt sáng: Táng minh (mù mắt).

(3) Dương thế: U minh lưỡng cách (Dương thế và âm phụ cách biệt).

(4) Thần: Thần minh.

(5) Tên triều đại: Nhà Minh.

(6) Họ Minh.  

(7) Sáng: Minh nguyệt.

(8) Tinh sáng: Nhĩ thính mục minh (tai nghe mắt thấy).

(9) Rõ ràng: Minh bạch; Minh nhất sáo, ám nhất sáo (việc úp mở).

(10) Hiểu biết rõ: Bất minh chân tướng (không rõ sự thật).

(11) Tỏ rõ: Phát minh tân lý (phát minh ra lẽ mới).

(12) Thời gian tiếp theo: Minh niên (năm sau).

I. Văn hoá là gì?

1. Từ nguyên: Thuật từ văn hoá (A, P: culture) dịch từ tiếng Latinh là cultura, bắt nguồn từ chữ cultus mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa gieo trồng ruộng đất (cultus agri) gieo trồng tinh thần (cultus animi), tức là sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người.

- Đa số học giả Anh, Pháp thì cho rằng văn hoávăn minh đồng nghĩa nhau, và cùng chỉ một lối sống thanh lịch. Trong một cuộc hội thảo về văn minh, văn hoá tại Salzburg từ 8–15/10/1961, gồm rất nhiều học giả trứ danh như Sorokin, Toynbee, Spengler, Northrop v. v. người ta đã dùng hai thuật từ văn minhvăn hoá lẫn lộn nhau, đồng nghĩa với nhau. Sử gia Anh, Toynbee giải thích rằng: có sự kiện này xảy ra là vì trong tiếng Đức, văn hoá có nghĩa là tiến bộ tinh thần; còn văn minh có nghĩa là tiến bộ vật chất, còn trong tiếng Anh và tiếng Pháp thì không có sự phân biệt ấy, vì thế họ mới dùng thuật từ văn minh với hai nghĩa văn hoá lẫn văn minh.

- Ở Trung Quốc, thuật từ văn hoá mới có sau này, nhưng chữ văn đã có từ lâu và bao hàm mọi ý nghĩa của văn hoá. Học giả Trung Quốc, ông Trần Thế Tương (陳世驤, 19121971) viết: “Văn là tất cả những gì đẹp đẽ của nhân quần, là sự sáng tạo của tinh thần, có mục đích kết hợp mọi phần tử rời rạc vô nghĩa thành một đoàn thể có tổ chức, đổi xung đột thành hoà mục, đổi loạn thành trị, thực hiện cái hay, cái đẹp”. J. Laloup và J. Nélis cũng cho rằng: “Chữ ‘văn’ của Trung Quốc hàm ngụ tất cả công trình cải thiện con người. Nó bao quát văn chương, đạo giáo, triết học, nghệ thuật. Tóm lại, tất cả mọi thủ đắc trên bình diện tinh thần, ngược lại với chữ vũ, tượng trưng cho guồng máy hành chánh và quân sự”. Trong Kinh Thư, chữ văn hay văn giáo đã được dùng thay vì thuật từ văn hoá”. Theo bộ Từ Hải thì văn hoá vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trịgiáo hoá.

- Ở Việt Nam do ảnh hưởng Trung Quốc, nên chữ văn cũng đã có tự lâu đời. Trái lại, thuật từ văn hoá chắc chắn là một thuật từ mới được thông dụng chưa đầy 100 năm. Các tự vị, tự điển Việt hay Pháp Việt, xuất bản trước 1918 đều không có thuật từ này.

- Tóm lại thuật từ culture đã xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 18, và thuật từ văn hoá khoảng đầu thế kỷ 20, nhưng chỉ được thông dụng ở bên Đông cũng như ở bên Tây, sau đệ nhất thế chiến.

2. Định nghĩa: Thuật từ văn hoá có nội dung vừa phong phú vừa phức tạp, thay đổi tuỳ theo quan điểm của từng tác giả. Do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá [8], mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, không nhất thiết loại trừ nhau, mà trái lại còn bổ túc và phong phú hoá cho nhau. Sau khi UNESCO - trong Tuyên bố toàn cầu về tính đa dạng văn hoá (năm 2002), đưa ra một định nghĩa chung về văn hoá, thuật từ này về căn bản đã được thống nhất. 

Vậy văn hoá là gì? UNESCO định nghĩa: Văn hoá nên được xem là tập hợp các đặc trưng tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó bao gồm lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và đức tin”.

Trong định nghĩa này, chúng ta lưu ý hai điểm:

(1) vì là định nghĩa trong một tuyên bố toàn cầu, nên nó nhấn mạnh tính riêng biệt trong văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.

(2) Quan trọng hơn, nó đưa ra khái niệm văn hoá theo 4 mức độ khác nhau: 

-                      Ở mức đơn giản nhất, văn hoá được xem là văn học và nghệ thuật, tức là bao gồm các bộ môn: ca, nhạc, vũ, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, kịch trường, điện ảnh,... Ví dụ khi ta nói: Trung tâm văn hoá, nhà văn hoá, công tác văn hoá, tác phẩm văn hoá, đêm văn hoá, trình diễn văn hoá, triển lãm văn hoá. 

-                      Ở mức độ cao hơn, văn hoá còn được xem là lối sống và cách chung sống, tức là những sinh hoạt của con người trong lãnh vực xã hội: ẩm thực, trang phục, ngôn ngữ giao tiếp, phong tục, tập quán ứng xử,…). Ví dụ: Sống có văn hoá, ăn nói thiếu văn hoá, phát triển văn hoá. 

-                      Ở mức độ phức tạp hơn, đó là hệ thống các giá trị tinh thần, đạo đức, truyền thống, đức tin, tức là những sinh hoạt của con người trong lãnh vực tinh thần. Đó là những công trình giáo hoá của con người (hoá, cultus: trau giồi tâm hồn, dạy dỗ, mở mang, khai hoá), những tri thức, học thuyết, triết thuyết, giáo lý đưa dẫn suy tư của con người lên một bình diện cao hơn đời sống vật chất hằng ngày, những tìm tòi và tin tưởng có tính cách tâm linh, hay nói nôm na là những niềm tin tôn giáo, những tin tưởng về những gì xảy ra trong cõi vô hình, có khả năng chi phối ngay trong và sau cuộc đời hiện tại. Trong nghĩa này, văn hoá khác biệt với những tiến bộ về vật chất được gọi là văn minh. (Văn hoá gồm nghệ thuật, đạo đức, luân lý, tôn giáo nâng con người lên trong lãnh vực tinh thần; Văn minh là những tiến bộ về kỹ thuật nhằm cải thiện đời sống vật chất của con người). Ví dụ: Học văn hoá, trình độ văn hoá.

-                      Ở mức phức tạp nhất và do đó phổ quát nhất, văn hoá được xem là tổng thể các đặc trưng tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của một xã hội,... Trong nghĩa này, văn hoá bao gồm cả văn minh, vì văn hoá (hay văn minh) chính là sự tiến bộ của con người cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất hầu làm cho đời sống con người được hạnh phúc hơn, phong phú hơn. Hay nói cách khác là tiến gần tới chân, thiện, mỹ hơn. Ví dụ: Di sản văn hoá thế giới, nền văn hoá phương Tây, nền văn hoá cổ.

II. Văn minh là gì?

1. Từ nguyên: Thuật từ văn minh (A: civilization, P: civilisation) xuất phát từ tiếng Latin civilis, là tĩnh từ của danh từ civis, có nghĩa là “người thành phố”, tức một người sống ở thành phố và chịu sự quản lý của pháp luật tại thành phố. Về cơ bản đó là mô hình của cuộc sống ở Rôma và các thành phố lớn khác, trái ngược với cuộc sống ở nơi khác trong nước, cuộc sống thành phố được coi là phát triển hơn, hoàn hảo hơn. Đó là lý do Tom Standage  xem thuật ngữ văn minh chỉ đơn giản mang nghĩa “sống tại thành phố”, và danh từ civilitas (đô thị) dịch nghĩa của chữ politeia (πολιτεια) trong tiếng Hi Lạp.

2. Định nghĩa: Cũng như khái niệm về văn hoá, khái niệm về văn minh cũng chưa được thống nhất giữa các tác giả, học giả các nước. Có hai cách hiểu thường thấy về văn minh:

(1) Xem văn minh đồng nhất với văn hoá, như Olivier de La Brosse, Antonin-Marie Henry và Philippe Rouillard hay Tự Điển Hàn Lâm Viện Pháp;

(2) Xem văn minh là một nền văn hoá phát triển cao. Nói cách khác, văn minhvăn hoá của một xã hội phức tạp, là xã hội bắt đầu sinh sống bằng nông nghiệp và có sự định cư tại thành phố, như Từ Điển Bách Khoa Việt Nam, Từ Điển của Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam, hay Webster’s Online Dictionary. Chúng tôi nghiêng về cách hiểu thứ hai. Vì quan niệm văn hoávăn minh (trong tiếng Việt) có nhiều yếu tố khác biệt hơn là tương đồng.

III. Tim hiều hai thuật từ này.

1. Văn hoávăn minh giống nhau?

Chúng tôi nghĩ rằng văn hoá văn minh đều là những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. Cả hai có liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống con người - nông thôn (cultus) và thành thị (civilis) - cả hai đều mang dấu ấn của con người đối với môi trường của mình trong nỗ lực làm cho cuộc sống của con người nhân bản hơn, nhằm tinh luyện con người, để biến cái dở thành cái hay, cái xấu thành cái tốt, cái tầm thường thành cái cao đại.

2. Văn hoávăn minh khác nhau?

Theo các chuyên gia về La ngữ, hai thuật từ văn hoá (cultura) và văn minh (civilitas) tương tự, không đồng nghĩa. Một số nền văn hoá do không hoàn hảo hoặc mất cân bằng đã không thể được coi là văn minh. Ví dụ: Nếu một nền văn hoá đề cao bạo lực, ca ngợi đấu tranh giai cấp, hạ giá trẻ sơ sinh và phụ nữ, tràn ngập bởi thuyết bất khả tri, thì nền văn hoá đó không đáng gọi là nền văn minh. Và như cha Hervé Carrier, một chuyên gia của Dòng Tên đã nói: "Văn minhvăn hoá, nhưng không phải tất cả các nền văn hoá đều là nền văn minh". Trái lại, một bộ tộc du mục nhỏ có thể được đánh giá không có văn minh, nhưng nó chắc chắn sẽ được đánh giá là có văn hoá (theo định nghĩa là "nghệ thuật, phong tục, thói quen, niềm tin, hành vi và lối sống").

Vì thế, mặc dù biết đây là một vấn đề phức tạp vì có rất nhiều quan niệm khác nhau về sự phân biệt này, giống hay khác nhau giữa văn hoávăn minh tuỳ theo ở nội dung của hai khái niệm mà chúng ta gán cho nó, ở một khía cạnh nào đó, chúng tôi thử phân biệt văn hoá với văn minh:

 

Văn hoá

 

Văn minh

 

1.     Văn hoá là tiến bộ của con người thuộc phạm vi tinh thần, bao hàm việc phát triển con người và nhất là về lý trí, tinh thần.

2.     Mục tiêu của văn hoá là làm cho sự việc đẹp hơn, nâng chúng lên cao và đóng ấn chúng bằng dấu ấn linh thiêng.

Lưu ý rằng: Cái đẹp thường không để phục vụ cho một mục đích thực tiễn, tự nó có sự biện minh riêng của nó. Do đó văn hoá nhằm nuôi dưỡng, "nâng tâm hồn lên" (sursum corda).

3.     Việc khai sinh ra một tác phẩm văn hoá thì tinh tế hơn, mầu nhiệm hơn và khó có thể xác định được. Có thể gọi nó là một “đứa con" (genitum) và do đó văn hoá mang đậm nét hữu cơ (organic).

 

4.     Do tính linh thiêng, văn hoá phát triển trên nguyên tắc thặng dư (superabundance), phản ảnh sự hào phóng và sung mãn của tinh thần.

5.     Nền văn hoá chân chính cho thấy con người là một ngôi vị được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.

6.     "Mỗi khi con người dồn các cố gắng về chính mình, ta nói tới văn hoá" .

 

1.   Văn minh là tiến bộ thuộc phạm vi vật chất, bao hàm việc phát triển về khía cạnh xã hội, chính trị và kỹ thuật.

2.   Mục tiêu của văn minh là làm cho sự việc dễ dàng hơn, nhanh hơn, thuận tiện hơn, thực tiễn hơn, an toàn hơn hay lành mạnh hơn.

Lưu ý rằng: Tính thực tiễn của nền văn minh trước hết là phục vụ nhu cầu thể xác con người.

3.   Việc khai sinh ra một công trình văn minh, kể từ khi con người có ý định thực hiện một mục tiêu thực tiễn và bắt tay vào làm việc cho tới khi tìm ra một giải pháp được coi như một “sản phẩm" (factum), nhằm thay thế thiên nhiên và do đó văn minh mang đậm nét nhân tạo (artificial).

4.   Do tính thống nhất hoá và đơn giản hoá chi phối, văn minh có mặt trái là dễ bị tinh thần bủn xỉn (parsimony) tác động: bất cứ điều gì không tuyệt đối cần thiết đều bị loại bỏ.

5.   Nền văn minh cao cho thấy con người có bộ óc cực kỳ phát triển.

6.   "Mỗi khi con người làm thay đổi thế giới vật chất, ta nói tới văn minh".

TLTK

1.       https://www.facebook.com/phantatthu

2.       http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20110712/11537

3.        

http://tgpsaigon.net
Đăng bởi: ycantho - Ngày đăng: 26/06/2016
Ngoại ngữ Thuốc Nhi Sản Ngoại - Thủ thuật - Mổ Bệnh học nội - Phác đồ Đọc giúp bạn Vui để học Basic sciences Đề thi E-LearningDiễn đàn Y Cần ThơQuyên Góp

Số lượt truy cập
25.948.445
86 người đang xem


.