Viêm xương chấn thương

Định nghĩa, phân loại, chẩn đoán và điều trị viêm xương chấn thương.

I. Định nghĩa:

Viêm xương chấn thương chỉ các nhiễm trùng xương do các vi trùng thường, không đặc hiệu, ngoại sinh từ ngoài vào sau gãy xương hở, sau các phẫu thuật, sau kết hợp xương trong gãy xương kín cũng như trong gãy xương hở.

II. Giải phẫu bệnh lý:

Có 2 giai đoạn:

1. Giai đoạn cấp tính

- Tổn thương mô mềm: các mô mềm dập nát trong gãy xương hở cắt lọc không tốt hoặc trong mổ kết hợp xương không được dẫn lưu tốt tạo điều kiện cho vi trùng phát triển gây nên nhiễm trùng ở ổ gãy.

- Tổn thương xương: mảnh xương nhỏ rời thiếu máu nuôi có thể trở thành xương chết nhất là nếu ổ gãy bị nhiễm trùng.

2. Giai đoạn mãn tính

- Tổn thương mô mềm và các lổ dò ở ngoài da và các đường dò thông vào xương, các đường dò có nhiều ngóc ngách và có nhiều mủ.

- Ống tuỷ có nhiều mạch máu tăng sinh nên có sự tạo xương mới mạnh mẽ bít kín dần đầu ống tuỷ.

- Các đầu xương xơ chai vô mạch để trở thành xương chết.

- Nhiễm trùng kích thích tạo xương mới bao bọc xương chết tạo thành xương tù.

- Vùng viêm xương vô mạch nên khả năng chống nhiễm trùng kém.

III. Phân loại:

1. Viêm xương chấn thương cấp tính:

Viêm xương chấn thương cấp tính (hay nhiễm trùng ổ gãy xương) trong vòng 3 – 4 tuần lễ đầu: tính từ thời điểm có dấu hiệu nhiễm trùng vết mổ của gãy xương hở hoặc sau kết hợp xương.

2. Viêm xương chấn thương mãn tính:

Sau tuần thứ 4 (từ tháng thứ 2) theo diễn biến chia thành 4 hình thái

Viêm màng xương do sẹo da xơ chai: viêm xương khu trú bề mặt của xương màng xương bị bong ra lộ xương đổi màu (trắng ngà hoặc màu vàng)

Viêm xương có lỗ dò: thường phức tạp có nhiều ổ mủ nhưng chưa có xương tù và xương chết.

IV. Chẩn đoán:

Chẩn đoán viêm xương chấn thương cấp tính, mãn tính không khó vì các dấu hiệu rất điển hình.

1. Viêm xương cấp tính:

- Sau một gãy xương hở hoặc sau mổ kết hợp xương có thể có sốt cao rét rung, vết mổ sưng tấy đỏ, đau, làm mủ (cấp tính).

- Hoặc sau khi dùng kháng sinh kéo dài còn thấy sốt dao động kéo dài chỉ thấy sốt nhẹ từ 37,5 – 38oC.

- Triệu chứng: sưng nóng, đỏ tại chỗ không rõ, chỉ có đau nhức dai dẵng, kém ăn mất ngủ, đó là triệu chứng đang nung mủ cần được phẫu thuật cắt lọc dẫn lưu tháo mủ.

2. Giai đoạn mãn tính

Có đầy đủ các triệu chứng điển hình:

- Đau tại chỗ kéo dài.

- Sốt kéo dài: 37 – 38oC.

- Dò mủ tái phát nhiều lần.

- Lỗ dò miệng hình phễu.

- Xương to xù xì biến dạng.

Chẩn đoán cận lâm sàng:

- X quang thường qui 2 tư thế thẳng và nghiêng

- CT scaner.

V. Điều trị

Nguyên tắc điều trị viêm xương chấn thương tuỳ thuộc vào hình thái viêm xương:

- Kháng sinh.

- Phẫu thuật: cắt lọc, lấy dị vật, lấy phương tiện kết hợp xương, lấy xương chết.

- Bất động.

1. Điều trị viêm xương chấn thương cấp:

- Nếu có dấu hiệu nhiễm trùng sau mổ phải cắt bỏ tất cả các nốt chỉ khâu, banh rộng vết mổ để dẫn lưu dịch và máu tụ, dùng kháng sinh và bất động.

- Nếu xử trí như vậy mà triệu chứng lâm sàng không giảm thì phải tiến hành phẫu thuật cắt lọc triệt để.

- Cố định chỉ định cho gãy hở xương đùi độ IIIb bị nhiễm trùng cấp.

- Nếu vết thương đã nhiễm trùng có mủ thì phẫu thuật lấy bỏ các mảnh xương vụn và các kết hợp xương bên trong thay bằng cố định ngoài.

- Tất cả các trường hợp phải để hở da chỉ khâu che xương.

Kháng sinh: dùng kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng; dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (có hiệu quả tốt nhất), dùng kháng sinh đường toàn thân.

2. Điều trị viêm màng xương loét da:

- Cắt bỏ xẹo xơ chai.

- Đục bạt bỏ bề mặt xương viêm.

- Vá da nuôi dưỡng tốt.

3. Điều trị viêm xương có lỗ dò:

- Cắt bỏ đường dò.

- Cắt bỏ mô bị xơ hoá.

- Để hở vết thương.

- Kháng sinh.

- Bất động xương (đề phòng gãy xương).

4. Điều trị viêm xương có xương chết, xương tù:

- Phẫu thuật cắt bỏ đường dò.

- Lấy bỏ xương tù và xương chết.

- Cố định xương đề phòng gãy xương.

- X quang theo dõi trong nhiều năm.

- Phải dùng kháng sinh đủ liều liên tục đúng thời gian.

- Trong khi mở bơm xanh méthylèn vào lỗ dò để tìm các đường dò để phát hiện đường đi để mổ lấy hết các đường dò.

Phương pháp nhuộm xương sống bằng cách tiêm chất xanh Disulfine để phân biệt xương lành nhuộm màu xanh, xương chết không nhuộm màu (Jenny)

Đăng bởi: ycantho - Ngày đăng: 04/07/2011
 1  2 
Thuốc Nhi Sản Ngoại - Thủ thuật - Mổ Bệnh học nội - Phác đồ Đọc giúp bạn Vui để học Basic sciences Đề thi E-LearningDiễn đàn Y Cần ThơQuyên Góp

Số lượt truy cập
7.242.804
7 người đang xem